Dọn dẹp bát đĩa và dao nĩa xong xuôi, bốn người rảnh rỗi sinh nhàm chán. Như thể một chuyện tất yếu, chiếc bàn ăn còn thoang thoảng mùi cà chua nhanh chóng biến thành bàn mạt chược.
Trong việc thảo luận nên chơi mạt chược Quảng Đông hay mạt chược Tr**ng S*, gần như không có tranh cãi dư thừa. Biện Xá Xuân dùng nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số để bác bỏ đề nghị của Văn Vu Dã, người bị bác bỏ cũng không có ý định tranh luận gì thêm.
“Cấm ăn bài, tối đa ba phán, Kong công khai một điểm, Kong kín hai điểm… Ầy, cứ đánh một ván là anh hiểu ngay!” Cơn nghiện bài nổi lên, Biện Xá Xuân không kiên nhẫn, vừa xé bao bì đã muốn bắt đầu.
Văn Vu Dã chẳng trông mong Biện Xá Xuân có thể làm người hướng dẫn đạt chuẩn, hắn tự mở công cụ tìm kiếm. May mắn là trên bàn còn một người chưa từng chạm vào mạt chược – Lộ Chi Bình, cô không kịp nói câu nào đã bị kéo đến bàn bài, bất lực giơ tay: “Không có cơ chế bảo vệ người chơi đã đành, ít nhất phải có hướng dẫn cơ bản chứ?”
Tưởng Diễm Huy vừa giúp Biện Xá Xuân chia bài vừa tóm tắt sơ qua luật chơi, khiến Lộ Chi Bình nghe mà choáng váng, cảm thấy những quân bài với hoa văn này còn khó nhớ hơn cả chòm sao. Tưởng Diễm Huy chỉ cười nói: “Cứ đánh một ván là hiểu thôi! Ai cũng bắt đầu như vậy.”
Lộ Chi Bình thở dài. Trong khoảnh khắc ấy, cô cảm thấy mình không phải đang ở thị trấn cổ tích nơi vùng cực bắc, mà như bị kéo về quê nhà vào dịp Tết, ngồi trong căn nhà xây dựng trái phép bên cạnh ruộng đồng ở nông thôn. Căn phòng được cải tạo thành phòng chơi bài, vỏ hạt dưa chất đống khắp sàn. Mấy bà dì cười tủm tỉm nắm lấy cổ tay cô: “Chơi một ván nhé?”
Biện Xá Xuân trông như các bà dì tung hoành trên chiếu bạc nhiều năm, nhưng thực ra thuộc kiểu thích chơi nhưng chơi không giỏi. Bài không đẹp mà cứ đánh lung tung, cứ thuận theo mà đánh chứ không tính toán gì. Tuy nhiên mạt chược Quảng Đông có nhịp độ nhanh, cộng thêm hai người chơi chưa quen nên anh không thua quá thảm hại.
Đến giữa ván thứ hai, anh còn tâm trí cười hỏi: “Có muốn cá cược gì không?”
“Tiền à? Không hợp đâu.” Tưởng Diễm Huy đánh một quân Cửu Sách, “Ở đây có người đang đi học đấy.”
Lộ Chi Bình im lặng gật đầu, bốc một quân Thất Vạn, thuận tay đánh ra.
Thế là hai người hào hứng thảo luận về việc nên cược cái gì một hồi lâu. Tuy nhiên, sau khi ván tiếp theo kết thúc, họ không còn nhắc đến chuyện đặt cược nữa, thay vào đó là nhìn chăm chú quân bài trong tay với vẻ mặt nghiêm trọng.
Nguyên nhân không phải do Biện Xá Xuân. Sau khi thích nghi với luật chơi và nhịp độ thì Văn Vu Dã đánh rất thuận tay, khiến bầu không khí của ván bài chuyển từ giải trí sang đấu trí.
“Anh là kiểu người đi một bước tính ba bước hả?” Biện Xá Xuân cảm thán, bề ngoài chê bai nhưng thực chất là khen, “Đánh bài với người như anh mệt thật.”
Tưởng Diễm Huy khó hiểu đến mức không thể tin được: “Tết nhất về nhà, người thân có cho anh ngồi vào bàn chơi không đấy?”
“Haiz, sao lại ngồi ngay sau em thế này, em áp lực quá.” Lộ Chi Bình mặt mày ủ rũ, cân nhắc rất lâu mới cẩn thận đánh ra một quân Đông Phong, ngước lên liếc Văn Vu Dã.
Văn Vu Dã cười, tự bốc một quân bài, lật cổ tay, nhẹ nhàng ngả hết quân bài xuống mặt bàn rồi thư thái dựa lưng vào ghế.
Mấy người hít sâu một hơi, ghé đầu nhìn – Bình Hồ, Tiễn Khắc, tự bốc, ba phán tối đa.
Tưởng Diễm Huy làu bàu rồi bắt đầu thu bài. Biện Xá Xuân bừng tỉnh, đấm mạnh vào vai Văn Vu Dã: “Anh không định tạo bài một chất hả!”
“Ừ.” Văn Vu Dã cười, ngón tay gõ nhẹ vào mép bàn, bắt chước giọng anh, “Lừa mọi người đấy.”
Biện Xá Xuân nheo mắt nhìn hắn một lúc, tay vẫn bận chỉnh bài, ghé sát lại rồi hỏi nhỏ: “Vừa rồi anh cố ý làm màu à?”
Văn Vu Dã không trả lời. Biện Xá Xuân cảm thấy câu châm ngôn phát ra từ đôi mắt cười của hắn – Thắng mà không khoe thì coi như chưa thắng.
Biện Xá Xuân ngẫm nghĩ một lúc, không khỏi cân nhắc câu hỏi mà trước đó anh chưa kịp suy nghĩ: Văn Vu Dã nhìn có vẻ như cao nhân ẩn dật, tùy duyên an phận, nhưng từ nhỏ đến lớn, hắn là kiểu người giành được vị trí đứng đầu vô số lần, hơn nữa vẫn miệt mài làm việc trong ngành IT cạnh tranh khốc liệt bao nhiêu năm. Người như thế sao có thể không có lòng hiếu thắng cho được?
Nghĩ đến đây, Biện Xá Xuân quay lại nhìn Văn Vu Dã một lần nữa. Văn Vu Dã không cười, vẫn mang vẻ mặt bình thản thường ngày.
“Chậc.”
“Hửm?” Văn Vu Dã nghiêng đầu nhìn anh.
Biện Xá Xuân không trả lời, quay sang Tưởng Diễm Huy, chân thành đề nghị: “Chúng ta đuổi anh ấy ra ngoài, chơi Đấu Địa Chủ đi?”
Cặp đôi có tính cách khác biệt ở bàn đối diện hiếm khi thống nhất ý kiến: “Được đó, được đó.”
Văn Vu Dã không có phản ứng với kết quả bị bỏ phiếu công khai này, chỉ nhướng mày, thoải mái kéo ghế lùi lại một bước.
Nói là chơi Đấu Địa Chủ, nhưng trên bàn không có bài Poker. Không biết Biện Xá Xuân móc bút từ đâu ra, giấy bút trên người anh nhiều như thể được đựng trong một túi không gian bốn chiều. Anh thêm số vào quân bài rồi chỉnh sửa, mất gần hai mươi phút, tái chế được bộ bài Poker với giao diện mạt chược.
Tuy nhiên, Biện Xá Xuân lúc đánh bài Poker và lúc đánh mạt chược là hai người hoàn toàn khác. Phong cách đánh bài thay đổi hẳn, ngay cả vận may cũng có vẻ tốt hơn. Lộ Chi Bình còn nghĩ anh chơi Đấu Địa Chủ giỏi hơn, chỉ có Tưởng Diễm Huy biết rõ. Với những trò chơi trên bàn, Biện Xá Xuân dốt đặc cán mai. Ánh mắt sắc như dao quan sát một lúc, cuối cùng bắt được bàn tay gõ chữ lia lịa dưới bàn, trừng mắt mắng: “Cậu cho là tôi mù hả?”
Văn Vu Dã ngồi im phăng phắc, thực ra đang chột dạ tắt điện thoại.
Nhưng hành động của hắn không có tác dụng gì. Tưởng Diễm Huy không khách sáo giật điện thoại của Biện Xá Xuân: “Cậu đuổi người ta ra để giúp cậu sát phạt hay gì?”
Biện Xá Xuân vốn không hề hoảng hốt, gian lận một cách đường hoàng, cười cợt nhả: “Chứ còn gì nữa?”
Lời vừa dứt, anh đột nhiên khựng lại, vì Tưởng Diễm Huy liếc qua màn hình, khẽ nhướng mày, quay lại hỏi bằng khẩu hình: “Giai đoạn khảo sát?”
Biện Xá Xuân vô thức liếc nhanh sang bên cạnh, ra hiệu bằng ánh mắt với Tưởng Diễm Huy: Lát nữa nói.
Tưởng Diễm Huy cười, trả lại điện thoại cho anh, rồi mắng tiếp: “Cậu cũng bị đuổi ra ngoài.”
Mặc dù nói vậy, nhưng trò chơi hai người có thể chơi đều vượt quá giới hạn hiểu biết của họ. Thế là bộ bài chưa kịp thu nằm la liệt trên bàn, không ai đoái hoài. Họ lại râm ran tán gẫu, di chuyển từ bàn ăn sang ghế sofa, rồi đến lò sưởi cạnh cửa sổ. Mấy người ngồi không quá gần nhau, chỉ vừa đủ để nghe rõ lời mà không cần tốn sức.
Đợt rét đậm ập đến không biết từ bao giờ. Cơn bão tuyết cùng gió cuốn qua cánh đồng, buốt giá và dữ dội, nhuộm đất trời thành một màu trắng xám, không gian cực kỳ hỗn loạn, song cũng tĩnh lặng vô cùng.
Họ đóng chặt cửa sổ, vẫn tiếp tục trò chuyện nhân lúc chưa buồn ngủ. Bởi vì làm như vậy sẽ dễ dàng phớt lờ ảo giác kia hơn, như thể nơi này chưa từng tồn tại sự sống, bản thân họ chỉ là một mảng trắng thô sơ.
Kim giờ vượt qua không giờ. Dù chỉ là những chủ đề vô thưởng vô phạt, họ vẫn trò chuyện khá sâu sắc. Văn học, ước mơ, tình yêu, tất cả thoáng qua trong vài câu nói như những hạt cát trôi thành dòng. Chủ đề trò chuyện từ đông sang tây, cuối cùng lại quay về Biện Xá Xuân.
Tưởng Diễm Huy tùy tiện hỏi anh: “Gần đây cậu đang viết gì?”
“Kinh dị học đường”. Cây bút bi xoay nhanh như chớp trên tay Biện Xá Xuân, anh thở dài, “Mới bắt đầu viết.”
“Tôi nhớ hồi cấp ba cậu viết trinh thám kinh dị rồi.” Tưởng Diễm Huy châm chọc theo thói quen, “Không thể bước ra khỏi vùng an toàn sao?”
Biện Xá Xuân cười khẩy, lắc ngón tay: “Không phải an toàn.”
Anh tự giễu đến mức nghiến răng nghiến lợi, cả bàn cười phá lên.
Lộ Chi Bình chống cằm hỏi anh: “Anh bắt đầu viết từ khi nào?”
“Tiểu học thì phải.” Biện Xá Xuân đảo mắt một vòng vẫn không nhớ ra thời điểm cụ thể, mỉm cười lắc đầu, “Nói chung là viết lung tung.”
“Có thể kiên trì nhiều năm như vậy là giỏi rồi.”
“Cũng từng bỏ cuộc.” Anh cười, không nói gì thêm.
Thực ra con người không hề hay biết khoảnh khắc gọi là “bánh răng định mệnh bắt đầu quay”. Lúc họ thực sự nhận ra là khi bánh răng đó mắc kẹt.
Những năm phiêu bạt ở Ý, anh ngắm quá nhiều tượng điêu khắc, nghe quá nhiều âm nhạc, xem quá nhiều kịch. Bóng ma Phục Hưng lảng vảng trên mỗi con phố ở Florence, lấp lánh ánh sáng nghệ thuật đỉnh cao của nhân loại. Anh luôn ngước nhìn những thứ đó, đồng thời luôn vật lộn giữa vũng lầy cuộc sống, cô đơn không nơi nương tựa, trằn trọc không yên. Khó khăn lắm mới thuê được một căn nhà ưng ý, trên tường treo vô số bức tranh sơn dầu sống động như chứa đựng linh hồn. Anh chỉ thốt lên vài lời khen ngợi, rồi lại nghĩ trang trí kiểu này khó dọn dẹp thật.
Anh giấu gia đình chuyển ngành sang văn học nghệ thuật. Con đường học vấn không thể nói là không thú vị, nhưng cũng không thể nói là không cạn kiệt cả sức khỏe lẫn tinh thần.
Chính trong những ngày tháng xa xứ “theo đuổi ước mơ” này, anh nghĩ rằng mình đã tỉnh ngộ. Hai mươi mấy năm qua, dù không thành công nhưng anh tự cho mình là người phóng khoáng, biết nhìn xa trông rộng, nhưng điều duy nhất khiến anh mê muội lại là những thứ hư ảo.
Xem thêm vài vở kịch, đọc thêm vài quyển sách, đầu bút hay bàn phím gõ ra những câu chuyện dài đến cả vạn chữ, nhưng cuộc sống của anh vẫn là một mớ bòng bong.
Thế là anh quyết định “sống thực tế”, vứt bỏ vẻ đẹp và sự khắc nghiệt của Florence, đồng thời quẳng đi sự mê muội của mình.
Nhưng quá đỗi nhàm chán.
Quá đỗi nhàm chán. Cuộc sống, công việc, bè lũ xu nịnh phá hỏng chuyện, quá nhàm chán. Anh vẫn phải viết gì đó, nhất định phải viết gì đó, để trốn thoát khỏi hiện thực hoang tàn.
Có một kiểu người như vậy, trời sinh xương cốt nhẹ hơn người khác, không thể chạm tới mặt đất.
Mang theo tài năng sắp khô cạn, dựa vào h*m m**n sáng tạo, miệt mài tranh đấu và lang thang không có mục tiêu, anh vứt bỏ gánh nặng mà khó khăn lắm mới tích lũy được và bay đến đây.
Nơi này. Anh nhìn ra ngoài cửa sổ. Núi tuyết hiểm trở từ mặt biển đen kịt đâm thẳng lên chín tầng mây như thanh kiếm của thần đang hiện diện ngay trước mắt. Gần anh đến thế, lại tựa như xa xôi đến thế.
Anh chợt nhớ lại đêm săn cực quang, trên chiếc xe địa hình cũ kỹ do Văn Vu Dã lái, Văn Vu Dã đã hỏi anh tại sao lại đến Bắc Âu săn cực quang, chỉ vì chưa từng thấy hay sao?
“Tôi thường thấy nam chính trong tiểu thuyết thất tình hay sa cơ lỡ vận sẽ đến Bắc Âu giải sầu, đến Bắc Âu thì nhất định phải ngắm cực quang. Tôi rất muốn biết tại sao, nên mới quyết định tự mình trải nghiệm.”
Anh nói nửa đùa nửa thật như vậy. Câu trả lời qua loa đó lẽ ra đã bị lãng quên, song giờ phút này lại hiện rõ trong tâm trí.
Một câu hỏi khác thôi thúc trong lòng.
Cốt truyện này quá quen thuộc, quen thuộc đến mức nhàm chán. Nhưng rất nhiều tác giả viết về Bắc Âu, về cực quang, có mấy ai thực sự đến đó? Có ai tận mắt trông thấy?
Tại sao lại mê muội những câu chuyện hư ảo? Tại sao phải nghiền ngẫm những câu từ nông cạn? Người ta đã nói hết lời, tại sao vẫn kiên trì tìm tòi, vắt cạn giọt mực cuối cùng mới chịu dừng tay?
Biện Xá Xuân ngồi bất động, qua cửa kính sát đất, gần như nhìn ngọn núi tuyết đến mê mẩn, như thể nhắm một thứ gì đó hư ảo. Nhưng ngay bên cạnh, ngọn lửa trong lò sưởi đang nhảy múa, hơi nóng đang dao động trong không khí, từng cơn gió va vào cửa sổ, một quân bài từ trên bàn rơi xuống tạo ra tiếng lách cách của đồ nhựa va chạm sàn gạch. Thế giới lúc này là căn nhà có lò sưởi đang cháy, là núi tuyết, là đồng cỏ, là vũ trụ vô tận.
Anh lẩm bẩm: “Đời người có hạn…”
Văn Vu Dã nghe thấy giọng anh, quay đầu lại: “Sao vậy?”
Biện Xá Xuân thở dài, lắc đầu, nói đùa: “Em cảm thấy mình giác ngộ rồi.”
“Giác ngộ điều gì?” Văn Vu Dã cười hỏi.
Những suy nghĩ quá sâu thường là riêng tư, không tiện cũng không muốn nói với người khác. Biện Xá Xuân trả lời lấp lửng: “Sáng tác chăng.”
Người bình thường nghe vậy, phần lớn sẽ nghĩ anh có linh cảm. Nhưng Văn Vu Dã nhìn anh một lúc, chỉ cười mà không nói, tặng anh hai cái vỗ tay hai.
Biện Xá Xuân không hiểu, vừa ngượng ngùng vừa quẫn bách, cảm xúc phức tạp hóa thành ý cười ngập tràn trong mắt: “Làm gì vậy?”
“Chúc mừng em.” Văn Vu Dã nói, “Mặc dù tôi không biết cụ thể em đang nghĩ gì, nhưng biểu cảm như thể đã hiểu ra chuyện làm khó em rất lâu rồi.”
Lúc im lặng thì không thấy, nhưng khi nghiêm túc nói chuyện với người khác, Văn Vu Dã lại mang khí chất của người anh cả với sự dẫn dắt nhẹ nhàng chỉ có ở những người đã quen với việc làm chỗ dựa tinh thần cho người khác.
Văn Vu Dã nhìn theo ánh mắt Biện Xá Xuân vừa rồi hướng ra ngoài cửa sổ ngắm ngọn núi tuyết. Trong lòng cảm thán, lần đầu tiên máy tính nói “Hello World” với mình, có lẽ hắn cũng có vẻ mặt như vậy.
